Quản lý nợ công: “Định hướng chuyển dần sang vay trong nước là đúng đắn”

 

Chuyên gia tài chính WB cho rằng, Việt Nam phải nâng cao năng lực để tiếp tục thực hiện công tác quản lý nợ công, huy động vốn vay nợ công cho hiệu quả…

 

Ông Rodrigo Cabral, Chuyên gia tài chính cao cấp của Ngân hàng Thế giới (WB), nhận định, định hướng chuyển dần phụ thuộc từ vay nước ngoài sang vay trong nước của Việt Nam là đúng đắn nhưng cần đa dạng hóa khả năng huy động vốn của Chính phủ.

Quan điểm này được ông Rodrigo Cabral đưa ra khi trao đổi với báo chí xoay quanh công tác quản lý nợ công ở Việt Nam hiện nay.

Theo đó, chuyên gia tài chính của WB cho rằng, Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi từ nước vay nhiều ODA sang nước tiếp cận các nguồn vay có tính chất thị trường nhiều hơn. Thực tế cho thấy, nhiều quốc gia như Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi gặp khá nhiều khó khăn do phải tiếp cận nhiều hơn nguồn vay kém ưu đãi và tiệm cận với thị trường.

“Ở đây có những thách thức lớn mà quan trọng nhất là phải nâng cao năng lực quản lý tài chính, năng lực tiếp cận thị trường, hiểu biết thị trường và phát triển thị trường vốn trong nước cũng như khả năng tiếp cận thị trường vốn quốc tế để đáp ứng nhu cầu vay của Chính phủ”, ông Rodrigo Cabral nhấn mạnh.

Vị chuyên gia này lấy ví dụ gần Việt Nam nhất là kinh nghiệm của Indonesia. Ông cho biết, Indonesia đã từng có giai đoạn chuyển đổi thành công trong việc thiết lập một bộ máy quản lý nợ công tương đối hiện đại, tiệm cận với thông lệ quốc tế. Ngoài ra còn có các quốc gia khác như Mexico, Nam Phi, Thái Lan…

Từ kinh nghiệm của các quốc gia này, ông Rodrigo Cabral cho rằng, một điểm quan trọng bậc nhất là phải tập trung phát triển thị trường vốn trong nước, trong đó cụ thể là phải bắt đầu bằng việc phát triển thị trường trái phiếu để đảm bảo nguồn huy động vốn tin cậy, ổn định. Đặc biệt khi dựa vào nguồn vốn trong nước sẽ đảm bảo bớt rủi ro về tỉ giá.

“Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là chúng ta không đa dạng hóa nguồn huy động. Tôi cho rằng với giai đoạn chuyển đổi hiện nay thì Việt Nam vẫn cần tiếp cận nguồn vốn của các tổ chức tài chính quốc tế cũng như phải từng bước tiếp cận thị trường tài chính quốc tế thông qua vay thương mại để làm đa dạng hóa khả năng huy động vốn của Chính phủ”, ông nói.

 

 

Bàn luận về cơ cấu nợ của Chính phủ Việt Nam hiện nay là tỷ trọng dư nợ trong nước chiếm khoảng 60% và nợ nước ngoài khoảng 40%, đặt trong bối cảnh đang thực hiện sự chuyển đổi, ông Rodrigo Cabral cho rằng, khó có thể nói đây có phải là tỉ lệ “đẹp” hay không, bởi còn phải phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia.

“Như ở Việt Nam định hướng hiện nay đang rất đúng là chuyển dần từ phụ thuộc nhiều từ vay nước ngoài sang vay trong nước. Các quốc gia khác nhau xác định tỉ lệ khác nhau và có chiến lược khác nhau. Để xác định tỉ lệ này phải tính đến đặc điểm của các khoản nợ.

Ví dụ ở Việt Nam, phần lớn khoản nợ là nợ vay dài hạn của các tổ chức tài chính quốc tế với điều kiện vay ưu đãi, thời hạn vay dài, lãi suất thấp thì rõ ràng Việt Nam có lợi thế trong việc quản lý được rủi ro về tỉ giá cũng như rủi ro về nợ nước ngoài. 

Nhưng nhiều nước, khi người ta mong muốn giảm nợ nước ngoài nhanh và tập trung vào nợ trong nước dẫn đến việc giải quyết được vấn đề rủi ro tỉ giá nhưng lại gặp rủi ro khác là áp lực trả nợ. Do vậy khi đưa ra tỉ lệ cần dựa trên đặc điểm của từng quốc gia”, chuyên gia tài chính của WB nhận định.

Ông Rodrigo Cabral cũng nói thêm, với vai trò là định chế toàn cầu, WB đã có kinh nghiệm của nhiều quốc gia, do vậy, trong khuôn khổ hợp tác với Bộ Tài chính, cơ quan này sẽ hỗ trợ Việt Nam thực hiện giai đoạn chuyển đổi này một cách vững chắc và đạt được mục tiêu của Chính phủ về quản lý nợ.

 

DUYÊN DUYÊN